DMCA.com Protection Status
top of page
  • Ảnh của tác giảphong nguyen ngoc

Lịch Sử,Kiến Trúc Chùa Cả,Chùa Lựa,chùa Âm hồn ,chùa Tân Kim Lan | Gốm Sứ Thanh Hương

1. Chùa Cả

Chùa làng Kim Lan tên chữ là Linh Ứng Tự. Nhưng lâu nay trong dân gian chỉ gọi nôm na là chùa

Cả. Cả là lớn, vì ở làng còn ba ngôi chùa nhỏ, dân dựng để giữ giới, đó là chùa Âm Hồn, chùa Lựa và chùa Tân.


Chùa Cả Kim Lan
Chùa Cả Kim Lan

Nằm ở gần trung tâm Phật giáo Luy Lâu (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Nịnh), chùa Cả có thể được khởi dựng từ rất sớm. Bằng cớ là vào đầu thế kỷ XII, ông Nguyễn Thạch Việt và vợ là bà Trần Thị Khát từ phương Bắc du ngoạn qua đây, thấy dân làng Kim Lan giàu có đã xin vào tu luyện ở ngôi chùa làng. Ngày ngày, ông tụng kinh niệm Phật, và dạy trẻ con trong làng học chữ, còn bà thì làm ruộng và may vá. Do có công lớn với triều Lý, sau khi mất ông được thờ làm Thành hoàng bản thổ của làng Kim Lan ở miếu Bản, đồng thời ông cũng là vị sư Tổ được thờ tại ngôi chùa làng.


Chùa Kim Lan nằm ở gần bờ sông Nhị, thường xuyên bị nạn đất lở và lũ lụt tàn phá nên dấu xưa của chùa cũ dường như không còn mấy. Năm Tự Đức 23 (1870), chùa được xây dựng với quy mô lớn: Tiền đường, Phật điện, gác chuông. Năm Bảo Đại thứ 8 (1933), cụ Hàn Quýnh, một chủ thầu giàu có ở làng đã chi một khoản tiền lớn làm bộ khung gỗ toà tiền đường bằng gỗ lim theo kiểu chồng diêm hai tầng 4 mái. Phật điện được tôn cao, mái đổ bêtông gắn ngói ta, tạo sự bền vững mà vẫn giữ được vẻ cổ kính. Giữa hai lớp mái xây gạch tạo thành 5 ô hình chữ nhật. Mỗi ô đều viết 4 chữ hán khá lớn, nói về giáo lý nhà Phật:


福海無邊


Phúc hải vô biên Biển phúc vô bờ.


精誠可格


Tinh thành khả cách


Lòng thành kính có thể thấu tới Phật


慈悲廣大


Từ bi quảng đại


Từ bi rộng lớn.


仁恩浩蕩


Nhân ân hạo đãng


Lòng nhân đức mênh mông


出世度生


Xuất thế độ sinh


Ra đời giúp dân sinh


Chùa hướng Đông Nam, phía trước có tam quan.


Di qua tam quan, tại sân phía bên trái có gác chuông và phía bên phải có gác treo khánh. Theo bài minh khắc


trên thân chuông đúc năm 1797, thì gác chuông dựng thời cuối Lê sau chùa chính. Năm Duy Tân thứ 6 (1912), bà Đào Thị Xuyến cúng 50 đồng và 4 sào ruộng để sửa chữa gác chuông, đến năm 1951 thì gác chuông không còn nữa. Năm 1953, sư Đàm Thuần sửa lại nhà Mẫu 5 gian. Phía trước gian giữa đắp nổi bốn chữ “Vạn phúc lại thành”. Trân trọng dấu xưa, trong lần sửa này, vị sư trụ trì đặt dưới hiên nhà viên đá kê chân cột gác

福海無邊


Phúc hải vô biên Biển phúc vô bờ.


精誠可格


Tinh thành khả cách


Lòng thành kính có thể thấu tới Phật


慈悲廣大


Từ bi quảng đại


Từ bi rộng lớn.


仁恩浩蕩


Nhân ân hạo đãng

Lòng nhân đức mênh mông

出世度生

Xuất thế độ sinh

Ra đời giúp dân sinh


Chùa hướng Đông Nam, phía trước có tam quan.


Di qua tam quan, tại sân phía bên trái có gác chuông và phía bên phải có gác treo khánh. Theo bài minh khắc


trên thân chuông đúc năm 1797, thì gác chuông dựng thời cuối Lê sau chùa chính. Năm Duy Tân thứ 6 (1912), bà Đào Thị Xuyến cúng 50 đồng và 4 sào ruộng để sửa chữa gác chuông, đến năm 1951 thì gác chuông không còn nữa. Năm 1953, sư Đàm Thuần sửa lại nhà Mẫu 5 gian. Phía trước gian giữa đắp nổi bốn chữ “Vạn phúc lại thành”. Trân trọng dấu xưa, trong lần sửa này, vị sư trụ trì đặt dưới hiên nhà viên đá kê chân cột gác


1 tấm đề năm Duy Tân tam niên (1909). Ngoài ra, trong chùa còn có bức cuốn thư chạm hai bài kệ, nội dung như sau:


沈水禪林香馥郁


栴檀慧菀舊栽培 戒刀削就聳山形


熱向心爐長供養


Trầm thủy thiền lâm hương phức úc Chiên đàn tuệ uyển cựu tài bồi


Giới đao tước tựu tủng sơn hình


Nhiệt hướng tâm lư trường cúng dưỡng


Dịch nghĩa:


Hương trầm thủy ngào ngạt ở rừng thiền,


Hương chiên đàn’vun trồng đã lâu ở vườn tuệ. Giới đao3 vót thành hình núi cao chót vót,


Đốt lò hương, lòng xin mãi mãi cúng Dàng.


1. Kệ: Một loại văn vần nhà chùa thường dùng để tóm lược kinh Phật, hoặc lời di giáo của nhà sư.


2. Chiên đàn: Tên một loại cây gỗ thơm, phiên âm từ tiếng Phạn là Chiên đàn na. Theo Tây dương tạp trở, thì loại cây này có bốn thứ hương: Rễ là hương chiên đàn, đốt là hương trầm, hoa là hương kê thiệt, nhựa là hương huân lục. Theo Bản thảo cương mục (Lý Thời Trân) nói hương này có ba loại: Bạch đàn, hoàng đàn và tử đàn. Còn Trầm thủy cũng là một loại cây quý.


3. Giới đạo: Con dao nhỏ của các Tì Khiêu, dùng để cắt may đạo phục.

1 tấm đề năm Duy Tân tam niên (1909). Ngoài ra, trong chùa còn có bức cuốn thư chạm hai bài kệ, nội dung như sau:


沈水禪林香馥郁


栴檀慧菀舊栽培 戒刀削就聳山形


熱向心爐長供養


Trầm thủy thiền lâm hương phức úc Chiên đàn tuệ uyển cựu tài bồi


Giới đao tước tựu tủng sơn hình


Nhiệt hướng tâm lư trường cúng dưỡng


Dịch nghĩa:


Hương trầm thủy ngào ngạt ở rừng thiền,


Hương chiên đàn’vun trồng đã lâu ở vườn tuệ. Giới đao3 vót thành hình núi cao chót vót,


Đốt lò hương, lòng xin mãi mãi cúng Dàng.


1. Kệ: Một loại văn vần nhà chùa thường dùng để tóm lược kinh Phật, hoặc lời di giáo của nhà sư.


2. Chiên đàn: Tên một loại cây gỗ thơm, phiên âm từ tiếng Phạn là Chiên đàn na. Theo Tây dương tạp trở, thì loại cây này có bốn thứ hương: Rễ là hương chiên đàn, đốt là hương trầm, hoa là hương kê thiệt, nhựa là hương huân lục. Theo Bản thảo cương mục (Lý Thời Trân) nói hương này có ba loại: Bạch đàn, hoàng đàn và tử đàn. Còn Trầm thủy cũng là một loại cây quý.


3. Giới đạo: Con dao nhỏ của các Tì Khiêu, dùng để cắt may đạo phục.


1 tấm đề năm Duy Tân tam niên (1909). Ngoài ra, trong chùa còn có bức cuốn thư chạm hai bài kệ, nội dung như sau:


沈水禪林香馥郁


栴檀慧菀舊栽培 戒刀削就聳山形

熱向心爐長供養

Trầm thủy thiền lâm hương phức úc Chiên đàn tuệ uyển cựu tài bồi

Giới đao tước tựu tủng sơn hình

Nhiệt hướng tâm lư trường cúng dưỡng


Dịch nghĩa:


Hương trầm thủy ngào ngạt ở rừng thiền,

Hương chiên đàn’vun trồng đã lâu ở vườn tuệ. Giới đao3 vót thành hình núi cao chót vót,

Đốt lò hương, lòng xin mãi mãi cúng Dàng.

1. Kệ: Một loại văn vần nhà chùa thường dùng để tóm lược kinh Phật, hoặc lời di giáo của nhà sư.


2. Chiên đàn: Tên một loại cây gỗ thơm, phiên âm từ tiếng Phạn là Chiên đàn na. Theo Tây dương tạp trở, thì loại cây này có bốn thứ hương: Rễ là hương chiên đàn, đốt là hương trầm, hoa là hương kê thiệt, nhựa là hương huân lục. Theo Bản thảo cương mục (Lý Thời Trân) nói hương này có ba loại: Bạch đàn, hoàng đàn và tử đàn. Còn Trầm thủy cũng là một loại cây quý.


3. Giới đạo: Con dao nhỏ của các Tì Khiêu, dùng để cắt may đạo phục.

1 tấm đề năm Duy Tân tam niên (1909). Ngoài ra, trong chùa còn có bức cuốn thư chạm hai bài kệ, nội dung như sau:


沈水禪林香馥郁


栴檀慧菀舊栽培 戒刀削就聳山形


熱向心爐長供養

Trầm thủy thiền lâm hương phức úc Chiên đàn tuệ uyển cựu tài bồi


Giới đao tước tựu tủng sơn hình


Nhiệt hướng tâm lư trường cúng dưỡng


Dịch nghĩa:


Hương trầm thủy ngào ngạt ở rừng thiền,

Hương chiên đàn’vun trồng đã lâu ở vườn tuệ. Giới đao3 vót thành hình núi cao chót vót,


Đốt lò hương, lòng xin mãi mãi cúng Dàng.


1. Kệ: Một loại văn vần nhà chùa thường dùng để tóm lược kinh Phật, hoặc lời di giáo của nhà sư.


2. Chiên đàn: Tên một loại cây gỗ thơm, phiên âm từ tiếng Phạn là Chiên đàn na. Theo Tây dương tạp trở, thì loại cây này có bốn thứ hương: Rễ là hương chiên đàn, đốt là hương trầm, hoa là hương kê thiệt, nhựa là hương huân lục. Theo Bản thảo cương mục (Lý Thời Trân) nói hương này có ba loại: Bạch đàn, hoàng đàn và tử đàn. Còn Trầm thủy cũng là một loại cây quý.


3. Giới đạo: Con dao nhỏ của các Tì Khiêu, dùng để cắt may đạo phục.


chùa, trong ấp có bà Nguyễn Thị Yển tiến cúng 50 đồng, để giúp đỡ công việc, lại gửi 1 sào 2 miếng ở xứ Khoan Chỉ, phía đông gần Thị Loan phía tây gần ruộng của chùa, giao cho trụ trì tăng coi sóc, lấy làm hương hoả hàng năm, quả phúc đầy đủ, nhờ căn thiện được vun đắp, cũng như người hảo tâm trong khoảng trời đất vậy. Có sự đẹp đẽ mà không làm tỏ rõ, sao khiến người cùng xã nguyện theo được, sau này đến ngày giỗ, tăng ni ở chùa, sửa soạn cỗ chay, tới bia bái tạ, nhiều đồ được hưởng ấy sẽ mãi không quên, có công ắt được đáp trả, khi quy y cửa Phật, nên tích thiện làm nhiều việc thiện, thì không lâu sẽ được đáp đền, nay khắc lên đá để truyền mãi về sau.


Ngày lành đầu mùa thu năm Duy Tân thứ 4 (1910).

Bia “Ký kỵ bi ký bản tự” tạo năm Duy Tân lục niên (1912), nói về việc sửa gác chuông.


寄忌碑記本寺


嘉林同縣東畲總金蘭社靈應寺住持妮為 立碑事。


蓋聞:有紀所以勸後人使之所監。紀 其事而傳其人,固可直植人心而見性成佛矣 o 歲壬子重修鍾閣,邑有信妮,陶氏釧九十


者,仰俯關懷,猶慚有關,伊念其私委於家 曷若投誠賴佛進供洋銀五十元,助其工役, 再供田二處四高,并交文契仰住持僧妮認耕 徵,永為歲辰香供之,需欲崇報本少補將來 亦鄉關之一底心人也。有美弗彰善何以勸 , 咱從氏願,祈考妣二位及次子夫妻眾等,遞 年臨諸諱日,本寺僧妮,整辦齋盤,就碑拜 祝,庶乎享而有所應久不忘,功自還功,梵 宇之皈依常在,善從積善,禪門之報應非遙 爱刺碑以壽其傳耳。 一奉計


顯考陶貴公字名施號純即五月初八日忌 顯妣阮貴氏號慈順三月二十九日忌。


次男前本鄉隊長阮甫字文議號純直六月 二十日忌次媳張氏號慈舒四月十九日忌。 皇朝維新六年仲春之月吉日謹鐫。


Phiên âm:


Kí kỵ bi ký bản tự


Gia Lâm đồng huyện, Đông Dư tổng, Kim Lan xã, Linh ứng tự trụ trì ni vi lập bi sự. Cái văn: Hữu kỷ sở dĩ khuyến hậu nhân sử chi sở


giám dã. Kỷ kỳ sự nhi truyền kỳ nhân, cố khả trực chỉ nhân tâm, nhi kiến tính thành Phật hĩ. Tuế Nhâm Tý trùng tu chung các, ấp hữu tín ni Đào Thị Xuyến giả cửu thập, ngưỡng phủ quan hoài, do tàm hữu khuyết, niệm kỳ tư, uỷ gia hạt nhược, đầu thành lai phật, tiến cúng dương ngân ngũ thập nguyên, trợ kỳ công dịch, tái củng điền nhị xứ tử cao. Tịnh giao văn khế, ngưỡng trụ trì tăng ni, nhận canh trưng, vĩnh vi an thời hương cúng chi, nhu dục sùng báo bản thiếu bổ tương lai, diệc hương quan chi nhất để tâm nhân đã. Hữu mỹ phất chương thiện, hà dĩ khuyến tự tòng thị nguyện, kì khảo tỷ nhị vị cập thứ tử phu thê chúng đẳng, đệ niên lâm chư huý nhật, bản tự tăng ni, chỉnh biện trai bàn, tựu bi bái chúc, thứ hồ hưởng nhi hữu sở, ứng cửu bất vong, công tự hoàn công, phạn vũ chi quy y thường tại, thiện tòng tích thiện, thiền môn chi báo ứng phi dao, viên thích bi dĩ thọ kỳ truyền nhĩ.


Nhất phụng kể:

Hiển khảo Đào quý công tự Danh Thí hiệu Thuần Tức ngũ nguyệt sơ bát nhật kỵ, hiển tỷ Nguyễn quý thị hiệu Từ Thuận tam nguyệt nhị thập cửu nhật kỵ.


Thứ nam tiền bản hương

Dịch nghĩa:


Biaghi việc gửi giỗ


Trụ trì, tăng ni, vãi ở chùa Linh Ứng, xã Kim Lan, tổng Đông Dư, đồng huyện Gia Lâm, lập bia ghi việc.


Thường nghe: Có ghi chép thì mới khiến người đời sau biết mà coi sóc. Ghi chép việc mà truyền lại cho người, cố nhiên là người có tấm lòng ngay thẳng, như thấy được đức tính thì thành Phật vậy. Năm Nhâm Tý sửa sang gác chuông, trong ấp có vị tín ni là Đào Thị Xuyến tuổi đã 90, quan tâm người trên kẻ dưới, nhưng vẫn thấy còn khuyết điểm, nên bà suy nghĩ và ủy thác việc gia đình cho người nhà, thành tâm nhờ cậy cửa Phật, bà tiến cúng 50 quan tiền, để giúp việc sửa sang, lại tiến cúng ruộng 2 sào 4 miếng, giao văn khế cho trụ


trì, tăng ni nhận lấy, làm ruộng hương hỏa. Có sự đẹp đẽ mà không làm tỏ rõ, sao khiến người nguyện theo được, vậy cầu phúc cho hai vị khảo tỷ cùng vợ chồng con cái bà. Hàng năm đến ngày giỗ, tăng ni bản chùa, sửa soan cỗ chay, tới bia bái tạ, nhiều đồ được hưởng ấy sẽ mãi không quên. Có công ắt được đáp trả, khi quy y của Phật, nên tích thiện làm nhiều việc thiện, thì không lâu sẽ được đáp đền, nay khắc bia để truyền lại việc đó. Kê:


Hiển khảo Đào quý công, tự Danh Thí, hiệu Thuần Tức (giỗ ngày mùng 8 tháng 5). Hiển tỷ Nguyễn quý thị, hiệu Từ Thuận (giỗ ngày 29 tháng 3).


Con trai Nguyễn Phủ, tự Văn Nghị, hiệu Thuần Trực, trước đây làm đội trưởng trong thôn (giỗ ngày 20 tháng 6). Con dâu Trương Thị, hiệu Từ Thư (giỗ ngày 19 tháng 4).


Ngày lành tháng trọng xuân năm Duy Tân thứ 6 (1912).


Một tấm đề niên đại Bảo Đại thứ 6, có nội dung như


sau:

竊聞:佛功德崔高惟從耳,法智慧海最


廣最深。事之有記所以後人之所監也。思其 事而傳其久,豈可良心必猶成佛。前本寺僧 重修梵字,寶所各座,二懇效大,有本社人


杜氏眾號妙就,廣發恆心,自出家供眷花員 銀一百元,私田二所一高。紀為寺田香燈歷


久不忘。 本寺追思,紀念本身及諸亡靈,建設齋


盤進供同承佛力,來臨配享,積善從善,功 自還功,以壽其傳是也。


阮文碧四月初四日忌。


阮文多十一月二十九日忌。


杜氏號妙就。


保大六年辛未五月十二日建造。


Phiên âm:


Thiết văn: Phật công đức thôi cao duy tòng nhĩ, pháp trí tuệ hải, tối quảng tối thâm. Sự chi hữu kỷ sở dĩ hậu nhân chi sở giám dã. Tư kỳ sự nhi truyền kỳ cửu, khởi khả lương tâm tất do thành Phật. Tiền bản tự tăng trùng tu phạn vũ, bảo sở các toà, nhị khẩn hiệu đại, hữu bản xã nhân Đỗ Thị Bốn hiệu Diệu Tựu, quảng phát hằng tâm, tự xuất gia cúng quyến hoa viên ngân nhất bách nguyên, tự điền nhị sở nhất cao. Kỷ vi tự điền hương đăng lịch cửu bất vong. Bản tự truy tư, kỷ niệm bản thân cập chư vong


linh, kiến thiết trai bàn tiến cúng đồng thừa Phật lực,

lai lâm phối hưởng, tích thiện tòng thiện, công đức hoàn công, dĩ thọ kỳ truyền thị đã.


Nguyễn Văn Bích tứ nguyệt sơ tứ nhật kỵ. Nguyễn Văn Đa thập nhất nguyệt nhị thập cửu


nhật kỵ.


Đỗ Thị Bốn hiệu Diệu Tựu.

Bảo Đại lục niên Tân Mùi, ngũ nguyệt thập nhị nhật kiến tạo.


Dịch nghĩa:


Trộm nghe: Việc công đức là điều cao quý, ấy là điều đáng noi theo vậy, Phật pháp trí tuệ rất rộng rất sâu. Ghi chép việc thờ cúng là để người đời sau coi sóc, nhớ về việc ấy mà truyền lâu dài, há chẳng có tấm lòng thiện thì ắt sẽ thành Phật sao. Trước đây, chùa ta từng sửa sang các tòa báu, cung thờ Phật, trong bản xã có bà Đỗ Thị Bốn hiệu Diệu Tựu, quảng phát hằng tâm, đã tự xuất tiền nhà cúng tiền 100 quan, ruộng 2 sào 1 miếng. Gửi làm ruộng hương hỏa, mãi sẽ không quên.


Nhà chùa nhớ ơn, ghi nhớ ngày giỗ của bà cùng các vong linh, sửa soạn cỗ chay tiến cúng, cùng được phối hưởng ở nơi Phật đường, tích thiện làm điều thiện, có công ắt được đáp trả, lấy đó để truyền mãi về sau vậy.


Nguyễn Văn Bích, giỗ ngày mùng 4 tháng Nguyễn Văn Đa, giỗ ngày 29 tháng 11.


Đỗ Thị Bốn hiệu Diệu Tựu.


4.


Ngày 12 tháng 5 năm Tân Mùi, niên hiệu Bảo Đại thứ 6 (1931) kiến tạo.


Tại đầu hồi bên trái toà tam bảo có bia “Công đức bị kỷ cỡ 60x90cm, niên đại đề “Bảo Đại bát niên” (1933), nội dung về việc trùng tu chùa do cụ Hàn Quýnh hưng công. Các dòng lạc khoản ở câu đối máng khá lớn treo tại hai cột cái gian giữa chùa còn cho chúng ta biết thêm, trong lần sửa chùa năm 1933 có 13 người ở Hà thành là bạn thân của cụ Hàn Quýnh cũng đến góp sức. Đó là các vị: Nguyễn Văn Trang, Phan Dụ Long, Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Trọng Viện, Nguyễn Ngọc Phác, Công Tú Nghiệp, Đào Đình Liên, Lê Văn Huyên, Lương Hữu Nhân, Phạm Bá Kiên, Đặng Phú Đức, Phạm Quang Sự, Đỗ Trọng Thọ.


Tại hai cột cái phía ngoài có ghi danh hai cụ bà ở Hà thành, mỗi cụ cúng một cái cột bằng gỗ lim: Cột bên trái ghi “Hà thành Nguyễn Thị Tường hiệu Diệu Thụy cung tiến nhất trụ” và cột bên phải ghi “Hà thành Phan thị hiệu Diệu Cần cung tiến nhất trự”. Ngôi chùa cao thoáng, bên trong bài trí bằng các bộ


cửa võng, hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Bia “Công đức bi ký” tạo dựng năm Bảo Đại thứ 8, có nội dung như sau:


功德碑記


竊聞:福基者惟善人能築也。崔大夫所 建渭科聯閥閱王宰相崇興造寺福及雲仍,天 構玄門,地鍾勝景象,山脈引雲開石室之塵 ,珥水瀾清月炤梵臺之鏡。是寺也而年深日 久尾解墻傾風撞雨撼。此則前人開創之功, 福基構作必會重修之運績咸熙。茲者本社 王人,九品文階武文閱,妻陶氏並,妾杜氏 鄭等,廣發恆心,自出家資修造上殿,前堂 寶所各座。事已圓成,福非私物,善可同人 心田智種,富貴增降,共山河而心壽者也。


河城黄梅柳供銀五十元。 張有亨供銀五十元。


楊裴焰供銀三十元。


保大捌年拾貳月初陸日建造。


南無十方諸佛作大證明功德。


Phiên âm:


Công đức bị ký


Thiết văn: Phúc cơ giả duy thiện nhân năng trúc dã. Thôi đại phu sở kiến vị khoa liên phiệt duyệt vương tể, tướng sùng hưng tạo tự phúc cập vân nhưng, thiên


cẩu huyền môn, địa chung thắng cảnh tượng, sơn mạch dẫn vân khai, thạch thất chi trần, Nhĩ thuỷ lan thanh nguyệt chiếu phạn đài chi kính, thị tự đã nhi niên thâm nhật cửu vĩ, giải tường khuynh phong chàng vũ hám, thử tắc tiền nhân khai sáng chi công, phúc cơ cấu tác, tất hội trùng tu chi vận, thử tích hàm hy giả bản xã vương nhân cửu phẩm văn giai Vũ Văn Quýnh, thê Đào Thị Tịnh, thiếp Đỗ Thị Trịnh đẳng, quảng phát hằng tâm, tự xuất gia tư tu tạo thượng điện, tiền bảo sở các toà. Sự dĩ viên thành, phúc phi tư vật, thiện khả đồng nhân tâm điền trí chủng, phú quý tăng giáng, cộng sơn hà nhi tâm thọ dã.


Dịch nghĩa:


Bia ghi công đức


Trộm nghe: Để gây dựng điều phúc thì ắt phải làm nhiều điều thiện vậy. Cho nên, các bậc đại phu sở dĩ muốn khoa danh gia thế vương tể là đều tạo phúc bằng việc tu sửa lại chùa. Thực là trời dựng nên cửa huyền diệu, đất hun đúc nên cảnh tượng vui tươi, mạch núi mở đường mây lộ ra phòng lớn, dòng sông Nhĩ sóng biếc trăng thanh, tựa gương soi toà lâu đài lớn.


Chùa ta xây dựng đã nhiều năm, mưa rơi gió thổi làm cho tường nghiêng đổ nát, thực là uổng phí công


của tiền nhân khai sáng gây dựng. Như vậy, để tạo phúc thì ắt phải cùng nhau trùng tu tôn tạo cho khang trang. Nay có Vũ Văn Quýnh là người khá giả trong xã giữ chức Cửu phẩm văn giai cùng vợ Đào Thị Tịnh thiếp Đỗ Thị Trịnh và một số thiện tín quảng phát hằng tâm đã tự xuất tiền của riêng trong nhà để tu tạo lại thượng điện, tiền đường và các toà tam bảo. Sự việc đã hoàn thành, thực là của riêng tạo phúc, con người rất thiện, ruộng tốt cây tươi, tăng thêm phú quý, thọ tựa sơn hà.


Hoàng Mai Liễu ở Hà thành, cúng tiền 50 đồng. Trương Hữu Hưởng cúng tiền 50 đồng.


Dương Bùi Diễm cúng tiền 30 đồng.


Ngày mùng 6 tháng 12 năm Bảo Đại thứ 8 (1933) kiến tạo.


Nam vô thập phương chư Phật chứng minh công đức. Bài minh trên chuông chùa Linh Ứng


Chuôngđược đúc vào năm 1797, thân chuông cao 1,2m; chu vi 1,73m. Quai chuông đúc hình con bồ lao là một loại rồng biển, thường

khắc bài minh 1500 chữ, trong đó có ghi tên 250 Phật tử gần xa công đức tiền của đúc chuông, bản dịch như sau:


靈應寺鍾


京北處,順安府,嘉林縣,金蘭社,善男 信女等為鑄造洪鍾刻銘功德寺。

蓋聞:鍾之為名,其來久矣。在樂府則為 飭文,思賦之珍。在釋家則為誦偈,和經之寶 ,以之在微祀宮館精舍尼沙界之不可無已眷 乃。我邑占得地靈,演從天泒澄澈榮迥委水 成,麟遊馬舞之形沖,油惜落奇山壯虎据龍 蟠之勢,永之名勝,亦風水極佳處也。向來鄉 中有寺,寺閣有鍾,慧柄玄機,常稔有靈應, 。適逢多故久陋,徹音望來開往寂禪調窺察 煩候,嗚之催王金敲希法響[]影消擎吼之蒲 溢影懷思溫瀍注憶有心之感瀛不慨然。


正是南天古刹北境叢林不恭上方之一竫景矣


茲因狀屬和平,情願重開,功德為是社內 ,善信諸員名氏,大發慈心,油興善念爱鳩工 匠曹集檀齋挪備,來曰錫青銅金品具銀錢之 用開箇炎熾煮火化完,鑄造之功,一做便成


百圓無缺,大小響嗚,鏗鏘和湊汝之音 ,暮朝聲韻,思機覺悟,醒塵寰之夢。良 因固 結,福果完圓,蓮花之臺,院增揮寶藏粧成金 錫訊逢戶之閶闔棄堵塵扃好思旺毫-大無融 之福祿永終全轄之旄倪共受如此,無量之功 德,可不表而揚之乎。因刻為銘以傳久永云。


其銘曰:


界環珠闕


邑喚金蘭


彊崇釋教


洞闢禪開


鼓鍾霽響


樓閣同攔


聲傳精舍

夢醒塵寰


曩經金革


韻悶銅鑾


善逢嘉泰


漸屬平安


時然玉燭


火熾炎丹 重修功德


啟建齊壇


洪鍾鑄造


功果圓完


慶留閶邑

福普挪壇

不虧前善


足壯後觀


爰銘為識


永示不刊


其善男信女功德,諸員名姓,若于開列


于后。


計:

善男阮平格妻阮氏滿古錢拾貫,阮德重字


福兼號壽全法道玄德古錢六貫,阮文嚴妻阮 氏塘古錢五貫,阮國花妻阮氏掌古錢參貫, 阮敦康妻阮氏稟古錢捌貫,陶春盛妻阮氏美


古錢三貫,阮輝妻阮勸古錢六貫,陶阮貴妻


阮氏擾古錢一貫。


[...]


阮文[],黎文[],阮文[],呂文[],黎氏模


,阮氏選,阮氏湮,阮氏妥,阮氏門,[]氏清 ,阮氏號,陶氏優,阮氏穩,阮氏孚,范氏海 阮氏蘊。

鉢場杜文仲提功德古錢貳貫。 一本社木匠功德古錢壹貫陸陌。 扶列社趙文[]功德古錢壹貫。


一文江縣楮舍洲社眷功德以下:楮廷接 古錢五貫,[]勤古錢貳貫,楮文祝妻阮氏與 古錢壹貫,楮文翠妻阮氏軒古錢壹貫,楮文 記古錢壹貫。


, 諸妮古錢陸貫。


一中蘭洲社眷功德以下阮廷載古錢壹貫


一公論社眷功德武氏内男子陶文哲[]錢


參貫。


一鉢場社秀凹廉古錢壹貫。


一富川縣唐黃中社[]功德以下黎登邁古 錢一貫[][]古錢一貫。 一化木寺以下阮文梅阮文濤阮文學阮文


款阮文徇陳文相。


皇朝萬萬歲年丁巳仲冬中浣穀日。


鄉人杜書。


Phiên âm:


Linh Ứng Tự chung

Kinh Bắc xứ, Thuận An phủ, Gia Lâm huyện, Kim Lan xã, thiện nam tín nữ đẳng, vị chú tạo hồng chung, khắc minh công đức tự. Cái văn: Chung chi vi danh, kỳ lai cửu hĩ. Tại


nhạc phủ tắc vi sức văn, tư phú chi trận. Tại thích gia tắc vi tụng hệ, hoà kinh chi bảo, dĩ chi tại vi tự cung quán tinh xá ni sa giới chi bất khả vô dĩ quyến nãi. Ngã ấp chiếm đắc địa linh, diễn tòng thiên cô trừng triệt vinh quýnh uỷ thuỷ thành, lân du mã vũ chi hình xung, du tích lạc kì sơn tráng hổ cứ long bàn chi thế, vĩnh chi danh thắng, diệc phong thuỷ cực giai xứ dã. Hướng lại hương trung hữu tự, tự các hữu chung, huệ binh huyền cơ, thường nẫm hữu linh ứng. Chính thị Nam thiên cổ sái, Bắc cảnh tùng lâm bất cung thượng phương chỉ


nhất tĩnh cảnh hỹ. Thích phùng đa cố cửu lậu, triệt âm vọng lai khai vãng tịch thiền điệu khuy sát phiền hậu, ô chi thôi vương kim sao hy pháp hưởng [ ảnh tiêu hình hống chi bổ dật ảnh hoài tư ôn triền chú ức hữu tâm chị cảm doanh bất khái nhiên.


Tư nhân trạng thuộc hoà bình, tình nguyện trùng khai, công đức vi thị xã nội, thiện tín chư viên danh thị, đại phát hằng tâm, du hưng thiện niệm viên cưu công tượng tào tập đàn na trai bị, lại viết tích thanh đồng kim phẩm cụ ngân tiền chi dụng khai cá viêm sĩ chử hoả hoá hoàn, chú tạo chi công, nhất tổ tiện thành bách viên vô khuyết, đại tiểu hưởng ô tuỳ khấu, khanh thương hoà tấu nhữ chi âm, mộ triều thanh vận, tư cơ giác ngộ, tỉnh trần hoàn chi mộng. Lương nhân cố kết, phúc quả hoàn viên, liên hoa chi đài, viện tăng huy bảo tạng trang thành kim tích tấn phùng hộ chi xương hợp khí đổ trần quýnh hảo tư vượng hào nhất đại vô dụng chi phúc lộc vĩnh chung toàn hạt chi mao nghề cộng thụ như thử, vô lượng chi công đức, khả bất biểu nhi dương chi hồ. Nhân khắc vi minh dĩ truyền cửu vĩnh vân.


Kỳ minh viết:


Giới hoàn châu khuyết


Ấp hoán Kim Lan


Cương sùng thích giáo


Đỗng tịch thiền khai Cổ chung tế hưởng


Lâu các đồng lan Thanh truyền tinh xá Mộng tỉnh trần hoàn Nãng kinh kim cách Vận muộn đồng loan Thiện phùng gia thái Tiệm thuộc bình an Thời nhiên ngọc chúc Hoả sí viêm đan Trùng tu công đức Khải kiến tề đàn Hồng chung chú tạo Công quả viên hoàn Khánh lưu xương ấp Phúc phổ na đàn Viên minh vi thức Vĩnh thị bất san


Bất khuy tiền thiện Túc tráng hậu quan


Kỳ thiện nam tín nữ, công đức chư viên danh tính, nhược vu khai liệt vu hậu. Ke:


Thiện nam Nguyễn Bình Cách thê Nguyễn Thị Mãn cổ tiền thập quán, Nguyễn Đức Trọng tự Phúc Kiêm hiệu Thọ Toàn pháp đạo Huyền Đức cổ tiền lục


qán, Nguyễn Văn Nghiêm thê Nguyễn Thị Đường cổ tiền ngũ quán, Nguyễn Quốc Hoa thê Nguyễn Thị Chưởng cổ tiền tam quán, Nguyễn Đôn Khang thể Nguyễn Thị Lẫm cổ tiền bát quán, Đào Xuân Thịnh thê Nguyễn Thị Mỹ cổ tiền tam quán, Nguyễn Huy thế Nguyễn Khuyến cổ tiền lục quán, Đào Nguyễn Quý thê Nguyễn Thị Nhiễu cổ tiền nhất quán.


[...]


Nguyễn Văn [], Lê Văn [], Nguyễn Văn [], Lã Văn [], Lê Thị Mô, Nguyễn Thị Tuyển, Nguyễn Thị Yên, Nguyễn Thị Thoả, Nguyễn Thị Môn, [] Thị Thanh, Nguyễn Thị Hào, Đào Thị Ưu, Nguyễn Thị Ổn, Nguyễn Thị Phù, Phạm Thị Hải, Nguyễn Thị Uẩn.


Bát Tràng Đỗ Văn Trọng, đề công đức cổ tiền nhị quán.


Nhất bản xã mộc tượng, công đức cổ tiền nhất quán luc mach.


Phù Liệt xã, Triệu Văn [] công đức cổ tiền nhất quán. Nhất Văn Giang huyện, Chử Xá châu xã, quyến công đức dĩ hạ: Chử Đình Tiếp cổ tiền ngũ quán, [] Cần cổ tiền nhị quán, Chử Văn Chúc thê Nguyễn Thị Dữ cổ tiền nhất quán, Chử Văn Thuý thê Nguyễn Thị Hiện cổ tiền nhất quán, Chử Văn Kí cổ tiền nhất quán.


Nhất Trung Lan châu xã, quyến công đức đi hại Nguyễn Đình Tải cổ tiền nhất quán, chư vãi cổ tiền lục quán


Nhất Công Luận xã, quyến công đức: Vũ Thị Nội, tử Đào Văn Triết [] tiền tam quán. nam


Nhất Bát Tràng xã, Tú Ba Liêm cổ tiền nhất quán Nhất Phú Xuyên huyện, Đường Hoàng Trung xã, [công đức dĩ hạ: Lê Đăng Mại cổ tiền nhất quán, cổ tiền nhất quán.


Nhất hoa mộc tự dĩ hạ: Nguyễn Văn Mai, Nguyễn Văn Đào, Nguyễn Văn Hưởng, Nguyễn Văn Nhuyễn, Nguyễn Văn Tuần, Trần Văn Tương.


Hoàng triều vạn vạn tuế niên Đinh Tỵ trọng đông trung hoán cốc nhật.


Hương nhân Đỗ thư.


Dịch nghĩa:


Chuông chùa Linh Ứng


(Linh Ứng tự chung)


Thiện nam tín nữ xã Kim Lan, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc đúc tạo chuông lớn, khắc bia ghi công đức.


Chuông là tên gọi đã có từ lâu đời, ở Nhạc phủ, chuông là vật quý khi ngâm văn ngợi phú. Trong Phật giáo, chuông là của báu để tụng kệ niệm kinh. Bởi vậy chuông dùng trong việc tế tự nơi cung quán, thờ cúng chốn Phật đường, là vật không thể thiếu của giới tăng ni,


Nay làng ta chiếm được chốn địa linh, cầu được nơi trời đặt. Sông lớn quanh co trong lăng, nước tú nên vẻ


ngựa nhảy cá vờn. Núi cao nhấp nhô chọc trời, ra hình rồng chầu hổ phục. Tìm trong danh thắng, cũng là nơi phong thủy cực đẹp vậy. non kỳ


Trước đây trong làng đã có chùa, gác chùa đã có chuông, nay được huyền cơ, luôn có linh ứng, thực là chốn cổ sái trời Nam, nơi tùng lâm đất Bắc, chẳng phải cũng là một cảnh đẹp của xứ Bắc sao? Nhưng gặp buổi lâu ngày dột nát, mái sập tường xiêu. Đúng khi binh hoả tràn qua, chuông chùa thất tán.


Nhân nay đang buổi hòa bình, muốn đem công đức sửa sang, vì vậy các thiện nam tín nữ trong xã, đại phát từ tâm, dốc vào việc thiện, thuê thợ tìm thầy, khuyến hóa bố thí. Kẻ góp thiếc, đồng, vàng; người quyên tiền quyên bạc; mở lò đốt lửa, đúc tạo nên chuông. Vừa làm đã xong, không một khiếm khuyết. Lớn bé gióng chuông lớn, nện chày vàng, hòa âm cõi phúc. Sớm tối nghe kinh chùa, vui giác ngộ, tỉnh mộng trần hoàn. Lương nhân gắn bó, phúc quả vẹn tròn, Phật đài ngày một rạng ngời. Bảo tạng năm thêm sáng chói.


Trong xóm ngoài làng một mảy may đóng góp đều được khắc ghi, người người phúc lộc lâu dài, toàn hạt may lành chung hưởng. Như vậy để công đức vô lượng không bị vùi lấp mà được hiển dương. Nhân đó khắc bài minh để truyền lại lâu dài:

Một vùng châu ngọc Làng gọi Kim Lan Phật giáo sùng thượng Dựng chùa mở mang.


Trống chuông cùng gióng Lầu gác đồng lan Vang truyền tinh xá Mộng tỉnh trần hoàn.


Lửa binh gặp buổi Chuông mất chùa tan May gặp thánh để Đời được bình an.


Liền khơi đuốc sáng Lửa hồng đốt ran Trùng tu công đức Mở rộng trai đàn


Hồng chung tạo đúc Vẹn công quả ta Xóm làng lưu mãi Phúc khắp đàn ng


1. Đàn na: Danh từ Phật giáo, chỉ những người làm việc công đức cho chùa.


Không thua người trước

Lưu lại dài lâu Khắc ghi để biết Truyền đến muôn sau.

Công đức và họ tên của thiện nam tín nữ kê khai dưới đây.


Kê:


Thiện nam Nguyễn Bình Cách, vợ Nguyễn Thị 10 quan tiền quý. Nguyễn Đức Trọng, tự Phúc Mãn Kiêm, hiệu Thọ Toàn, pháp đạo Huyền Đức - 6 quan tiền quý. Nguyễn Văn Nghiêm, vợ Nguyễn Thị Đường . 5 quan tiền quý, Nguyễn Quốc Hoa, vợ Nguyễn Thị Chưởng 3 quan tiền quý, Nguyễn Đôn Khang, vợ - Nguyễn Thị Lẫm - 8 quan tiền quý. Đào Xuân Thịnh, vợ Nguyễn Thị Nghĩa - 3 quan tiền quý. Nguyễn Nền, vợ Nguyễn Thị Khuyến - 2 quan tiền quý. Đào Văn Quý, vợ


Nguyễn Thị Nhiễu - 1 quan tiền quý... Dưới đây là thiện nam tín nữ xã Xuân Lan:

Lê Bá Dụng, vợ Nguyễn Thị Tín - 6 quan tiền quý. Đàm Quý Nghi, vợ Nguyễn Thị Ngân - 1 quan tiền quý. Lê Tiến Phú - 1 quan tiền quý.


Xã Chử Xá:

Chử Văn Thông, vợ Nguyễn Thị Tơi - 5 quan tiền quý.

Sư trụ trì:


Tỳ kheo ni hiệu Diệu Nhẫn - 10 quan tiền quý. Tỳ kheo ni hiệu Diệu Lý - 3 quan tiền quý.


Dưới đây là các vãi:


Phạm Thị Lẫm, Nguyễn Thị Vẹt, Đào Thị Bằng, Nguyễn Thị Điểu, Nguyễn Thị Điền, Trương Thị Tám, Nguyễn Thị Bảng - đều 1 quan tiền quý. Phạm Thị Thứ, Phạm Thị Thỉ, Nguyễn Thị Với - đều 1 quan tiền gián.


Nguyễn Thị Nhượng 2 quan tiền quý... Tiền công đức của bản xã:


20 quan tiền quý.


Các suất binh của bản xã:


Công đức 6 quan tiền quý.


Lệ phiên của bản xã: Công đức 3 quan tiền gián.


Dưới đây là thiện nam tín nữ của bản xã công đức:

Đào Thị Tiến - 10 quan tiền quý. Nguyễn Thị Tăng 5 quan tiền quý. Nguyễn Thị Thái - 5 quan tiền quý.


Phạm Văn Cối - 5 quan tiền quý.


Xã Bát Tràng:


Công đức 2 quan tiền quý.


Thợ mộc của bản xã:


Công đức 1 quan 6 mạch tiền quý. Xã Phù Liệt:


Công đức 1 quan tiền quý.

Dưới đây là công đức của xã Chử Xá Châu huyện Văn Giang:


Chử Văn Thúy, vợ Nguyễn Thị Hiên - 1 tiền quý. Chử Văn Tự - 1 quan tiền quý. Chử Đình Tiếp 5 quan tiền quý. Chử Văn Công - 2 quan tiền quý. Chử Văn Chúc, vợ Nguyễn Thị Dữ - 1 quan tiền quý. Dưới đây là công đức của xã Trung Lan Châu:


Nguyễn Đình Tải 1 quan tiền quý. Các vãi - 6 quan tiền quý.


Xã Công Luận: Vũ Thị Nội và con trai là Đào Văn Triết - 3 quan


tiền gián.


Xã Bát Tràng:


Tú Ba Liêm - 1 quan tiền quý.


Xã Đường Hoàng Trung huyện Phú Xuyên:


Lê Đăng Mại 1 quan tiền quý...

Hoàng Triều vạn vạn niên, ngày lành trung tuần tháng 11 năm Đinh Tỵ (1797).


Người họ Đỗ làng Kim Lan viết chữ.


Trần Thị Kim Anh dịch Tiến sỹ Nguyễn Công Việt hiệu đính.


1. Năm Đinh Tỵ ở đây có thể vào các năm 1677, 1737, 1797, trong bài ký có nói gặp binh lửa chiến tranh nên chùa nát chuông mất, đo đó chúng tôi cho rằng chuông được đúc năm 1797, vào niên hiệu Cảnh Thịnh thời Tây Sơn.


重修靈應寺

蓋聞:人生在世欲求康誌之安,聖賢之道 天能覆地能載,人能成覆載之功。惟在北寧 省,順成府,嘉林縣,金關社,所有靈應寺, 雖非名藍勝景,亦是古跡招來,自因堤被破潰 ,風雨凜楮,星霜荏苒,為由已久圮者修者 屢根本邑節經累次圖心創造,協力重新。但念 工程浩大,需費頗多,求其大發心粧戒福 塥,未有其人必待今日也。茲因我寺僧妮,廣 行普勸,協同本邑重修坐見。我邑願出私田三 高以供升田,願出錢六十貫以修寺事。人有恆 心,硃深可想誰會善念登可恐然仍,共耆老 員邑上下等,一切順許該生[]低此旬朔死後 ,倘臨諱日,碑記后堂配享。一交本寺隨宜遞 供,以昭厚德,以表慈心,願福緣許,大非自 我之道私而善事。當為矢同人之共勉因我勒 我石銘碑記永矢弗諉而壽其傳耳。


南無觀世音菩薩證明功德。


福圓成,俾我邑百年富貴康寧。


祝曰:


皇圖鞏固

帝道遐昌


佛日增輝

法輪常保

南無阿陀佛


辰皇朝嗣德貳拾參拾壹月初貳日午年


月穀日。



黎文夫字福善妻陶氏通號妙譽求亦處壹


高東近小路核通處貳高五口西近安樂甲媽固 處壹高拾貳寸。


阮氏正號妙康塚升處參高南近榮門田。 阮文參號純正四月二十九日忌求塔處壹 高貳口東近阮文求亦處壹高五口南近[] 北近


阮文摁。

張甫公字純良妻阮氏添號妙壽滝詩參高 東近秀恒。


陶氏傳號妙圓寄田一所二高在坳軍處東 南近[]西北近寺田古錢六十貫。


本社人侶文珠寫字碑記。


Phiên âm:


Trùng tu Linh Ứng tự


Cái văn: Nhân sinh tại thế dục cầu khang chí chì an, thánh hiền chi đạo thiên năng phúc địa năng tải nhân năng thành phúc tải chi công. Quyển duy tại Bắc Ninh tỉnh Thuận Thành phủ Gia Lâm huyện Kim Quan xã, sở hữu Linh Ứng tự, tuy phi danh lam thắng cảnh, diệc thị cổ tích chiêu lai, tự nhân đê bị phá hội, phong vũ lẫm chử, tinh sương nhẫm nhiễm, vị do dĩ cửu bĩ giả tu giả lũ chấn bản ấp tiết kinh lũy thứ đồ tâm sáng tạo, hiệp lực trùng tân. Đãn niệm công trình hạo đại, nhu phi phả đa, cầu kỳ đại phát bà tâm trạng giới phúc cách, vị hữu kỳ nhân tất đãi kim nhật dã.


Tư nhân ngã tự tăng ni, quảng hành phổ khuyến, hiệp đồng bản ấp trùng tu tọa kiến. Ngã ấp nguyện xuất tự điền tam cao dĩ cúng tịnh điền, nguyện xuất tiền lục thập quán đã tu tự sự. Nhân hữu hằng tâm, chu thêm khả tưởng thuy

hội thiện niệm đăng khả khủng nhiên nhưng, cộng kỳ lão viên ấp thượng hạ đẳng, nhất thiết thuận hứa cãi sinh [] đê thử tuần sóc tử hậu, thảng lâm huý nhật, bị kí hậu đường phối hưởng. Nhất giao bản tự tuy nghi đệ cúng, dĩ chiều hậu đức, dĩ biểu từ tâm, nguyện phúc duyên hứa đại phi tự ngã chi đạo tư nhi thiện sự. Đương vị thì đồng nhân chi cộng miễn nhân ngã lặc ngã thạch minh bi kí vĩnh thỉ, phất uỷ nhi thọ kỳ truyền nhĩ.


Nam vô Quan Thế Âm Bồ Tát chứng minh công đức. Phúc quả viên thành, tỷ ngã ấp bách niên phú quý khang ninh.


Chúc viết:


Hoàng đồ củng cố Đế đạo hà xương


Phật nhật tăng huy Pháp luân thường bảo


Nam mô a di đà phật


Thời hoàng triều Tự Đức nhị thập tam niên thập nhất nguyệt sơ nhị nhật ngọ niên nguyệt cốc nhật. Kê:


Lê Văn Phu tự Phúc Thiện, thê Đào Thị Thông hiệu Diệu Dự, Cầu Diệc xứ nhất cao, (đông cận tiểu lộ) Cây Thông xứ nhị cao ngũ khẩu, (tây cận Yên Lạc giáp), Ma Cố xứ nhất cao thập nhị thốn.


Nguyễn Thị Chính hiệu Diệu Khang Chủng Thăng xứ tam cao (nam cận Vinh Ba điền).

Nguyễn Văn Sâm hiệu Thuần Chính tử nguyệt nhị thập cửu nhật kỵ, Cầu Hộp xứ nhất cao nhị khẩu (đông cận Nguyễn Văn Tại) Cầu Diệc xứ nhất cao ngũ khẩu (nam cận Bà [], bắc cận nguyễn Văn Tai).


Trương phủ công tự Thuần Lương, thê Nguyễn Thị Thiêm hiệu Diệu Thọ, Sông Thi tam cao (động cận Tú Hoàn). Đào Thị Truyền hiệu Diệu Viên, ký điền nhất sở nhị cao tại Ao Quân xứ (đông nam cận [ tây bắc cận tự điền) cổ tiền lục thập quán.


Bản xã nhân Lã Văn Châu tả tự bị kí.


Dịch nghĩa:

Bia gửi hậu và trùng tu chùa Linh Ứng 1870.

Thường nghe: Người ta sinh ra trên đời đều mong muốn được an khang thịnh vượng.


Theo lẽ đạo thánh hiền được trời đất chở che thường xuyên. Nay tại xã Kim Quan, huyện Gia Lâm, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh có ngôi chùa Linh Ứng Tự, tuy chưa phải là danh lam thắng cảnh cũng là nơi di tích có tự xa xưa để lại.

Vừa qua gặp hồi đê điều bị vỡ nhiều lần, gió táp mưa xa thấm thoắt từ lâu, chùa bị dột nát hư hại chưa


có thời cơ sửa chữa được. Người trong xã rất mong được sửa chữa nhưng vì kinh phí chưa có nên phải đợi đến ngày nay.


Đến nay tăng ni bản tự cùng với dân làng quyết định trùng tu góp công góp của, của ít lòng nhiều, tùy tâm công đức. Một số gia đình xin ký gửi hậu vào chùa bằng ruộng tư nhiều nhất tới ba sào và 60 quan tiền quý thêm vào việc sửa chữa.


Do vậy từ các bậc kỳ lão viên ấp trên dưới đều nhất trí đồng thuận: Các tín chủ công đức gửi hậu ruộng tiền đều được nương nhờ cửa Phật trong những ngày tuần tiết. Sau khi mất đến ngày húy nhật được tới nhà bia gửi hậu phối hưởng. Giao cho bản tự cúng lễ sau này. Để nêu công đức, từ tâm góp vào việc tốt, được khắc vào bia đá truyền lại đời sau:


Nam mô quan thế âm bồ tát

Chứng minh công đức


Phúc quả vẹn tròn


Phù hộ nhân dân trong xã được trăm năm khang ninh phú quý


Chúc rằng:


Hoàng đồ củng cố Đế đạo thịnh vượng dài lâu


Đạo Phật chói ngời - pháp luân giữ trọn Nam mô Adiđà Phật


Thời Hoàng triều Tự Đức năm thứ 23


Vào ngày lành mùng 2 tháng 11 năm Canh Ngọ (1870). Ghi các gia đình gửi hậu:


Lê Văn Phu tự Phúc Thiện. Vợ là Nguyễn Thị Thông hiệu Diệu Dự, gửi 1 sào tại sứ Cầu Diệc. Đông giáp đường nhỏ. 2 sào 5 miếng sứ Cây Thông. Tây giáp Yên Lạc giáp.


Nguyễn Văn Xâm hiệu Thuần Chính giỗ ngày 29 tháng 4. Gửi 3 sào 2 miếng sứ Cầu Hóp. Đông giáp Nguyễn Văn Hòa.


Trương Phủ Công tự Thuần Lương. Vợ là Nguyễn Thị Thêm hiệu Diệu Thọ gửi 3 sào sứ Sông Thi. Đông giáp ông Tú Hoàn.


Đào Thị Truyền hiệu Diệu Viên gửi 3 sào sứ Ao Quân và 60 quan tiền quý.


Nguyễn Thị Chính hiệu Diệu Khang gửi 3 sào sứ Chũng Thưng.


Người trong xã là Lã Văn Châu viết chữ ghi trên bia. Người dịch: Nguyễn Việt Hồng.


Sau đây là bản dịch hoành phi, câu đối, bài minh


trên chuông và văn bia năm 1870:


Hoành phi


Trên cổ điện tòa Tam Bảo:


1. 慈悲廣大


Từ bi quảng đại Lòng từ bi rộng lớn


2. 精誠可格


Tinh thành khả cách


Lòng thành kính có thể thấu tới Phật


3.福海無邊

Phúc hải vô biên Biển phúc vô bờ

4.仁恩浩蕩


Nhân ân hạo đãng Lòng nhân đức mênh mông


5.出世度生

Xuất thế độ sinh


Ra đời giúp dân sinh

Gian giữa Tam Bảo:


6. 慈雲天覆


Từ vân thiên phúc Mây lành trời che Gian thờ Đức Ông:


7. 經權并用


Kinh quyền tịnh dụng Dùng cả hai phép kinh quyền Gian thờ Đức Thánh Hiền:


8. 慈心廣濟


Từ tâm quảng thế Lòng từ bi cứu giúp rộng khắp Phía trong Tam Bảo:


9. 琉璃殿


Latu ly dien


Điện lưu ly 10.佛德無邊


Phật đức vô biên Đức của Phật tổ khôn cùng


1. Lưu ly: Một trong bảy bảo vật quý của Phật gia, gọi là thất bàn. Đây ý muốn nói đến tòa báu nơi Phật ngự.

11. 依正莊嚴


Y chính trang nghiêm Ngay thẳng trang nghiêm. Ngoài cửa gian giữa nhà Mẫu:


12. 萬福來成


Vạn phúc lai thành Muôn phước hợp thành Bên trong nhà Mẫu:


13.靈光無極


Linh quang vô cực Thiêng liêng rực rỡ vô cùng


Câu đối


Cột cái Tam Bảo:


1. 大地有龍有珠歷代塔碑經九變 君子恆心恒產壹新寺院壯重修


Đại địa hữu long hữu châu lịch đại tháp bi kinh cửu biến;


Quân tử hằng tâm hằng sản nhất tân tự viện tráng trùng tu


Nghĩa là:


Đất lớn đã có rồng có ngọc, trải các đời thay đổi bia tháp chín lần;


Quân tử sẵn hằng sản hằng tâm, chùa Phật mới làm xong trang nghiêm rực rỡ. Gian thờ Đức Ông:


2. 出聖入神執正分明善惡


升天降地掌中辨别重輕 Xuất thánh nhập thần chấp chính phân minh thiện ác;


Thăng thiên giảng địa chưởng trung biện biệt trọng khinh


Nghĩa là:


Ra thánh vào thần cầm quyền rạch ròi thiện ác; Lên trời xuống đất trong tay phân biệt trọng khinh.

Thờ Đức Thánh Hiền

3. 結集經文現神通而莫測


宣揚貝葉助佛化以難量


Kết tập kinh văn hiện thần thông nhi mạc trắc Tuyên dương bối diệp trợ Phật hóa dĩ nan lượng


Nghĩa là:


Kết tập kinh văn hiện thần thông mà khó biết; Tuyên đọc kinh bối diệp giúp Phật hóa thật khôn lường. Gian giữa:


4. 水灑楊柳之頭普濟沉淪恩霑惠澤 香散蓮花座上脫超苦海壽域春臺

Thuỷ tái dương liễu chi đầu phủ tế trầm luân ân


triêm huệ trạch; Hương tán liên hoa toạ thượng thoát siêu khổ hải


thọ vực xuân đài


Nghĩa là:


Nước rưới từ đầu cành dương rộng giúp những người khổ sở ân trạch còn nhớ mãi;


Hương bay trên toà sen thoát ra khỏi bể khổ vượt lên đến đài xuân.

5法力宏深十方敬仰


慈心廣大四眾皈依


Pháp lực hoằng thâm thập phương kính ngưỡng Từ tâm quảng đại tứ chúng quy y


Nghĩa là:


Lực pháp rộng sâu, mười phương đều kính ngưỡng Lòng từ to lớn, dân khắp nơi theo về.


6. 鳳樓交翠門前草

石室濃香苑上花


Phượng lâu giao thủy môn tiền thảo; Thạch thất nồng hương uyển thượng hoa


Nghĩa là:


Lầu phượng đan xanh cỏ trước thềm; Thạch thất ngát hương hoa trong vườn.


7.栽松挽得慈雲蔭


植竹偏依好鳥聲


Tài tùng vãn đắc từ vân ấm; Thực trúc thiên y hiếu điểu thanh y


Nghĩa là:


Trồng cây tùng có thể nhờ mây che chở; Trồng cây trúc là chỗ dựa cho con chim hát vang.


8. 月殿鏡章影耀玉樓十二


雲台錦畫文成世界三千


Nguyệt điện kính chương ảnh điệu ngọc lâu thập nhị; Vân đài cẩm hoa văn thành thế giới tam thiên


Nghĩa là:


Điện ngọc gương trong mười hai lầu ngọc soi bóng; Đài vân gấm vẽ ngàn thế giới tô lên.


9.玉殿恩霑春宇宙


金臺衍福壽方民


Ngọc điện ân triêm xuân vũ trụ; Kim đài diễn phúc thọ phương dân


Nghĩa là:


Điện ngọc gội ân thềm xuân trời đất;


Đài vàng phúc đến tăng thọ dân lành. Gian giữa nhà Mẫu:


10.萬物資生坤厚載 興天合德海涵容


1. Tam thiên thế giới (thuật ngữ Phật học): Tức Tam thiên Đại thiên thế giới. Lấy núi Tu Di làm trung tâm, xung quanh có 7 núi 8 biển, lại có núi Thiết Vi làm bức thành xung quanh ở bên ngoài gọi là tiểu thế giới, 1000 tiểu thế giới là 1 Tiểu thiên thế giới, 1000 tiểu thiên thế giới là 1 Trung thiên thế giới, 1000 trung thiên thế giới là 1 Đại thiên thế giới. Tam thiên được tạo bởi: Tiểu thiên, Trung thiên và Đại thiên. (Theo Từ điển Phật học Hán-Việt, Kim Cương Tử chủ biên, Nxb. Phân viện nghiên cứu Phật học, H.1992- 1994).


Vạn vật tư sinh khôn hậu tài, Hưng thiên hợp đức hải hàm dung


Nghĩa là:


Vạn vật sinh ra đều nhờ đất dày che chở Cùng trời hợp đức biển lớn rộng lượng bao dung. Trước tiền đường:


11.珠嶺裕繁禧月耀禪門娛舜日 金蘭培後脈雲開梵宇樂堯天 Châu lĩnh dụ phần hy nguyệt diệu thiền môn ngu


Thuẩn nhật;


Kim Lan bồi hậu mạch vân khai phạn vũ nhạc Nghiêu thiên


Nghĩa là:


Núi Chu lưu quả phúc cửa chùa trăng sáng vui đất Thuấn;


Kim Lan bồi hậu mạch mây tỏa hào quang đẹp trời Nghiêu.


12慧日高懸珥水引回鍾瑞氣


慈雲厚蔭龍州環抱振文風


Tuệ nhật cao huyền nhị thuỷ dẫn hồi chung thụy khí, Từ vân hậu ẩm long châu hoàn bão chấn văn phong


Nghĩa là:


Đạo Phật treo cao dòng Nhị chuyển về khí thi hun đúc; thiêng


Mây lành bóng tỏa bãi rồng ôm ấp phong thái dựng xây.


Chùa Cả được công nhận “Di tích lịch sử” ngày 29-1-2003 số 905/QĐ-UB do Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội Nguyễn Quốc Triệu ký. Ngoài ra, sư cụ Đàm Thuần còn được tặng Huân chương kháng chiến chống Pháp.


2. Chùa Âm Hồn

Chùa ở gần đất Lão, giáp với chùa Am của làng Bát Tràng. Quanh chùa là đồng rộng, trẻ con chết yểu của Bát Tràng thường đem ra đây chôn, nên ngôi chùa giữ giới cũng được gọi là chùa Âm Hồn. Chùa chỉ có 1 gian làm kiểu phương đình 2 tầng 8 mái. Cạnh chùa có một cây sung to.

3. Chùa Lựa

Tên chữ là Khai Khẩu Tự, giáp giới với làng Xuân Quan, nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Trước đây chùa thuộc xóm Cái Ngang, sau đổi là xóm Lựa, và ngôi chùa giữ giới nằm ở rìa xóm cũng được gọi nôm na là chùa Lựa. Năm 1963, chùa bị dỡ. Năm 2002,


Chùa Lựa Kim Lan
Chùa Lựa Kim Lan

chùa dựng lại 3 gian nhỏ trên móng cũ. Gian chính giữa đặt tượng Phật Bà Quan âm; gian bên phải đặt tượng Đức Ông; gian bên trái đặt tượng Đức Thánh Hiền. Gần đây, bên trái cửa chùa có xây thêm ba gian nhà lợp ngói. Tại tường hồi bên phải ngôi nhà có gắn tấm bia Văn chỉ, cỡ 40x60cm, tạo năm Thành Thái thứ 9 (1898). Nội dung văn bia nói gia đình cụ Cả Toan công đức tiền sửa chữa Văn chỉ, sau đó dựng bia ghi công đức. Khi Văn chỉ bỏ hoang phế, thì tấm bia này lưu lạc khắp nơicó nhà dùng để đập lúa, có nhà dùng lát đường đikhi trong nhà lục đục, gặp chuyện chẳng lành, họ liền đem tấm bia đó đặt tại nền chùa Lựa. Quý mến một việc làm đẹp của cha ông, gần đây, con cháu cụ Cả Toan đã chi tiền dựng ngôi nhà nhỏ này, trước là để đặt tấm bia quý, sau là dành chỗ cho người làng sắp lễ trước khi vào lễ Phật.


4. Chùa Tân

Tên chữ Tân Phúc Tự, nằm giáp giới với làng Trung Quan, xã Văn Đức, cùng huyện. Theo bản đồ làng Đại Quan Châu, tổng Đại Quan Châu, huyện Văn Giang, bấy giờ thuộc tỉnh Bắc Ninh, thì ở phía Bắc của làng giáp với Kim Quan. Trên bản đồ có ghi “Kim Quan phật tự là chỉ ngôi chùa này. Đến nay, người làng còn

nhớ, có cụ tổ họ Trịnh từ vùng Bưởi, do gặp hoạn nạn đã đến chùa Tân xin tá túc và sau trở thành người trông nom chùa. Năm 1943 cụ Tự Khoa và sau đó là cụ Đức trông nom chùa. Năm 1963, chùa bị dỡ, trên nền cũ nay chỉ còn một cây duối cổ thụ.

212 lượt xem0 bình luận

Bài đăng gần đây

Xem tất cả

Comments

Rated 0 out of 5 stars.
No ratings yet

Add a rating
bottom of page